Tình hình phân hoá xã hội
Sự phát triển của sức sản xuất và kinh tế đã tạo ra sản phẩm thặng dư trong xã hội, từ đó tác động trực tiếp tới phân hoá xã hội, thể hiện nổi bật ở hai hiện tượng:
Một là vào cuối thời Hùng Vương, những gia đình nhỏ đã ra đời và trở thành tế bào kinh tế xã hội đồng thời chế độ mẫu hệ cũng chuyển dần sang chế độ phụ hệ. Những truyền thuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh, Chử Đồng Tử-Tiên Dung, trầu cau… đều phản ánh tập tục cư trú bên nhà chồng – hình thức hôn nhân phụ hệ của gia đình nhỏ. Theo Tiền Hán thư, kết quả đầu tiên điều tra hộ khẩu của nhà Hán vào đầu thời Bắc thuộc cho biết: Quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) có 92.440 hộ, 746.237 khẩu, trung binh mỗi hộ có 8 người; quận Cửu Chân (Bắc Trung Bộ) có 35.743 hộ, 166.613 khẩu, trung bình mỗi hộ có khoảng 4-5 người. Như vậy, những gia đình nhỏ chắc chắn phải được hình thành từ trước thời Bắc thuộc, tức cuối thời Hùng Vương. Tuy nhiên, bấy giờ truyền thống và tàn dư của chế độ mẫu hệ đại gia đình còn đậm nét.
Hai là sự hình thành và tồn tại bền vững của công xã nông thôn với chế độ sở hữu chung về ruộng đất. Theo C. Mác, công xã nông thôn là hình thái tổ chức xã hội xuất hiện phổ biến vào giai đoạn tan rã của công xã nguyên thuỷ và quá độ sang xã hội có giai cấp. Công xã nông thôn có đặc trưng cơ bản khác với công xã thị tộc là: Trong công xã nông thôn, tuy ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu còng xã nhưng đã được phân chia cho các thành viên công xã, những gia đình nhỏ để canh tác và các thành viên được quyền sở hữu sản phẩm lao động của mình.
Những di tích khảo cổ học thời Hùng Vương cho thấy những chứng tích về sự tụ cư và định cư của công xã nông thôn trên những phạm vi thường rộng hàng ngàn mét vuông cho đến một vài vạn mét vuông với tầng văn hoá khá dày. Trước đây, những công xã nông thôn đó có những tên gọi cổ như kẻ, chiềng, chạ… sau này được gọilà làng xã. Mỗi công xã nông thôn gồm một số gia đinh sống quây quan trong một khu vực địa lí nhất định. Trong công xã nông thôn bên cạnh quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống vẫn được bảo tồn, cho đến những thời kì sau này có nhiều tên làng mang tên một dòng họ như Hoàng Xá, Cao Xá, Lê Xá, Đặng Xá, Dương Xá…
Đọc thêm tại:
- http://kholichsuvietnam.blogspot.com/2015/04/nha-nuoc-au-lac.html
- http://kholichsuvietnam.blogspot.com/
- http://kholichsuvietnam.blogspot.com/2015/07/nong-nghiep-va-thu-cong-nghiep-co-buoc.html
Chăn nuôi cũng được đẩy mạnh theo đà của trồng trọt. Trâu, bò, gà, chó, lợn… là những gia súc phổ biến mà xương, răng của chúng được tìm thấy trong nhiều di tích khảo cổ học, đặc biệt từ giai đoạn Gò Mun đến giai đoạn Đóng Sơn, xương trâu, bò nhà được tìm thấy ngày càng nhiều. Trong di chỉ Đồng Đậu đã tìm thấy tượng gà bằng đất nung. Đến giai đoạn Đông Sơn tìm thấy tượng gà bằng đồng thau ở Chiền Vậy, Vinh Quang.
Hái lượm và săn bắn vẫn tồn tại nhưng bị đẩy xuống thứ yếu bởi trồng trọt và chăn nuôi cho sản phẩm nhiều hơn và không bấp bênh như hái lượm và săn bắn càng theo hướng thực dụng với hoa văn đơn giản. Những đồ đựng như chum, vại, nồi, niêu, bát, đĩa… được tìm thấy rất nhiều ở các di tích khảo cổ học.
Nghề dệt đã khá phổ biến. Các loại vải mịn, vải thô còn in dấu trên đồ gốm. Trong một ngôi mộ ở Châu Can đã tìm thấy những mảnh vải. Hình người trên một số đồ đồng thuộc Đông Sơn, nhất là trên trống đồng, thạp đồng đều mặc áo, mặc váy, đóng khố. Sự phát triển của nghề luyện kim (đúc đồng, luyện sắt) có ý nghĩa như cuộc cách mạng, có tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống kinh tế và cơ cấu xã hội. Nghề đúc đồng xuất hiện từ đầu thời Hùng Vương, phát triển qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun và đạt đỉnh cao ở giai đoạn Đông Sơn. Điều này được chứng thực bằng việc phát hiện ra các cục xỉ đồng và các khuôn đúc đồng, đặc biệt là các hiện vật đồng nhiều về số lượng, phong phú về chủng loại như rìu, giáo, mũi tên, lưỡi cày… Trong đó, tiêu biểu nhất là các trống đồng thòi Đông Sơn. Cũng đến giai đoạn Đông Sơn, nghề luyện sắt đã xuất hiện. Dấu tích của lò luyện sắt xốp ở Đồng Môn (Nghệ An), các ống bễ ở Vinh Quang (Hà Nội)… Câu chuyện huyền thoại về ngựa sắt, nón sắt, roi sắt của người anh hùng làng Gióng cũng phản ánh phần nào nghề luyện sắt của cha ông ta. Ngoài ra, những nghề thủ công khác cũng được phát triển như nghề mộc, nghề đan lát, nghề làm đá…
Tóm lại, trong khoảng 2000 năm tr.CN, sức sản xuất và nền kinh tế thời đại Hùng Vương từ chỗ còn mang dáng dấp kinh tế tự nhiên nguyên thuỷ ở giai đoạn đầu trải qua những bước phát triển lâu dài đến giai đoạn cuối đã có những biến đổi lớn lao chuyển dần sang nền kinh tế sản xuất là chủ yếu.
Những cong cụ bằng đổng thau, bằng sắt thay thế dần công cụ bằng đá. Con người từ vùng đồi núi, trung du tràn xuống khai phá vùng đồng bằng rộng lớn. Từ trồng trọt nương rẫy là phổ biến chuyển sang lấy nông nghiệp trồng lúa nước làm chủ đạo, từ nông nghiệp dùng cuốc sang nông nghiệp dùng cày với lưỡi cày bằng kim loại và sức kéo của gia súc.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: sự ra đời của nhà nước, nhà nước
âu lạc
TIỀN ĐỀ VẬT CHẤT VÀ NHŨNG YẾU Tố THÚC ĐAY NHÀ NUỚC RA ĐỜI
Quá trình phát triển của kinh tế và tình hình phân hoá xã hội
Quá trình phát triển của kinh tế
Vào đầu thời kì Hùng Vương, tương ứng với giai đoạn Phùng Nguyên, công cụ bằng đá (lưỡi rìu đá, lưỡi cuốc đá…) vẫn hoàn toàn chiếm ưu thế, lúc này đồng còn rất hiếm và thường để chế tác đồ trang sức.
Ở giai đoạn này, nghề chăn nuôi, nghề gốm đã khá phát triển và đã xuất hiện nghề luyện kim đồng thau nhưng sàn bắn, hái lượm sản vật của thiên nhiên và trồng trọt làm nương rẫy vẫn là chủ yếu.
Qua các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun, nhất là từ Đông Sơn, công cụ lao động đã có bước tiến lớn lao, chủ yếu là công cụ bằng đồngthau và bắt đầu xuất hiện công cụ bằng sắt. Ngoài rìu đồng được sử dụng để khai phá đất đai, từ giai đoạn Gò Mun đã tìm thấy lưỡi liềm đổng và đến giai đoạn Đông Sơn thì tìm thấy hàng loạt lưỡi cày đồng, nhíp đồng, lưỡi cuốc, mai, thuổng bằng đồng. Liềm đồng và nhíp đồng là những công cụ cắt, dùng để thu hoạch lúa; lưỡi cày, cuốc, mai, thuổng… là những công cụ làm đất để gieo trồng. Đặc biệt là lưỡi cày đồng đã tìm thấy ở các di tích thuộc văn hoá Đông Sơn với số lượng lên tới hàng trăm gồm nhiều loại với kích thước và hình dáng khác nhau. Riêng ở cổ Loa (Hà Nội) đã tìm thấy gần 100 lưỡi cày đồng. Đây là lưỡi cày dùng để rẽ đất và lật đất một cách liên tục bằng lực kéo. Bước chuyển từ nền nông nghiệp dùng cuốc sang nền nông nghiệp dùng cày đã góp phần nâng cao năng suất lao động và nền kinh tế bao gồm nhiều ngành nghề ngày càng phát triển.
Về trồng trọt, vào hậu kì thời đại đồ đồng và sơ kì thời đại đồ sắt cư dân đã mở rộng địa bàn cư trú, tràn xuống chinh phục vùng đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Thời kì này, cây trồng chủ yếu là lúa nước. Theo tài liệu khảo cổ học, phân tích 4 mẫu thóc cháy và trấu lấy từ các di tích thì đều có niên đại tr.CN. Cùng với nghề trồng lúa nước, nghề trồng rau củ, cây ăn quả tiếp tục phát triển. Hạt na, hạt hoàng ngô, kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở di tích Tràng Kênh cho thấy có những cây thuộc họ đậu, họ bầu bí, họ dâu tằm. Truyền thuyết dân gian có nói về việc trồng dưa hấu trong chuyện Mai An Tiêm.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: nha nuoc van lang, nước
âu lạc
Lịch sử mỗi quốc gia khởi điểm từ sự hình thành của nhà nước đầu tiên. Thuở xa xưa, trong nhân dân đã lưu truyền những huyền thoại về thời đại Hùng Vương – thời hình thành nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Dựa vào truyền thuyết dân gian và thư tịch cổ Trung Hoa, nhiều học giả trung đại và cân đại đã phác họa được một phần bức tranh thời dại Hùng Vương tồn tại khoảng 2000 năm (từ thiên kỉ II trước CN đến thế kỉ I – II) ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay.
Trong mấy chục năm gần đây, thời dại Hùng Vương được nhiều nhà sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn hoá học, nhân chủng học… nghiên cứu công phu và đã xác định được sự tồn tại của một nền văn minh cổ xưa và sự hình thành nhà nước đầu tiên của người Việt cổ.
Các nhà khảo cổ học đã khai quật hàng trăm di tích khảo cổ. Tất cả các di tích khảo cổ đó kết thành diễn biến văn hoá vật chất liên tục từ sơ kì thời đại đồng thau đến sơ kì thời đại đồ sắt. Địa bàn phân bố và niên đại của các di tích khảo cổ này trùng hợp với phạm vi không gian và thời gian của thời dại Hùng Vương đã được phản ánh trong truyền thuyết dân gian và sử sách cổ. Các nhà khảo cổ học phân chia các di tích khảo cổ đó thành bốn giai đoạn phát triển liên tục hay còngọi là bốn nền văn hoá kế tiếp như sau:
- Giai đoạn Phùng Nguyên thuộc sơ kì thời đại đồng thau, tồn tại trong khoảng nửa đầu thiên kỉ thứ II tr.CN.
- Giai đoạn Đồng Đậu thuộc trung kì thời đại đồng thau, thuộc nửa sau thiên kỉ II tr.CN.
- Giai đoạn Gò Mun thuộc hậu kì thời đại đồng thau, khoảng từ cuối thiên kỉ II tr.CN đến đầu thiên kỉ I tr.CN.
- Giai đoạn Đông Sơn thuộc sơ kì thời đại đồ sắt, từ đầu thiên kỉ II tr.CN đến vài thế kỉ S.CN. Như vậy, đầu giai đoạn Đông Sơn thuộc thời đại Hùng Vương, còn cuối thuộc thời Bắc thuộc sau đó.
Thời đại Hùng Vương gồm hai thời kì: Thời Văn Lang của các đòi vua Hùng và thòi Âu Lạc của An Dương Vương. Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong thời gian ngắn nên được coi như giai đoạn phát triển liên tục của Văn Lang và cũng nằm trong cùng thời đại Hùng Vương.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: nhà nước văn lang, nuoc
au lac
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



